5:51 PM , 20

Trang nhất » Sâu Bệnh Thời Vụ » Trên cây lúa

BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA [Pyricularia grisea (Cooke) Saccardo]

7:35 PM, 2012-09-20
1. BỆNH ðẠO ÔN HẠI LÚA [Pyricularia grisea (Cooke) Saccardo]
                       Tên cũ:      [Pyricularia oryzae Cav. et Bri.]
Bệnh ñạo ôn là một trong những bệnh phổ biến và gây hại có ý nghĩa kinh tế nhất ở
các nước trồng lúa trên thế giới. Bệnh ñược phát hiện ñầu tiên ở Italia năm 1560, sau ñó là
ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906 và Ấn ðộ năm 1913, v.v...
Ở nước ta, Vincens (người Pháp) ñã phát hiện một số bệnh ở Nam bộ vào năm 1921. Năm
1951, Roger (người Pháp) ñã xác ñịnh sự xuất hiện và gây hại của bệnh ở vùng Bắc bộ.
Hiện nay, bệnh ñạo ôn hại lúa ñã phát sinh phá hoại nghiêm trọng nhiều nơi ở miền
Bắc nước ta như Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang, Hà ðông. Vụ ñông
xuân 1991 - 1992 ở miền Bắc diện tích lúa bị bệnh ñạo ôn lá là 292.0000 ha, trong ñó có
tới 241.000 ha bị ñạo ôn cổ bông. Ở miền Nam, diện tích bị bệnh ñạo ôn năm 1992 là
165.000 ha.
Theo Padmanabhan (1965) khi lúa bị ñạo ôn cổ bông 1% thì năng suất có thể bị
giảm từ 0,7 - 17,4% tuỳ thuộc vào các yếu tố có liên quan khác.
1.1. Triệu chứng bệnh
Bệnh ñạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ  ñến lúa chín và có thể gây hại ở bẹ lá,
lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt.
a) Bệnh trên mạ:
Vết bệnh trên mạ lúc ñầu hình bầu dục sau tạo thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương
tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng. Khi bệnh nặng, từng  ñám vết bệnh kế tiếp
nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc chết.
b) Vết bệnh trên lá lúa:
Thông thường vết bệnh lúc ñầu là những chấm nhỏ màu xanh lục hoặc mờ vết dầu,
sau chuyển màu xám nhạt. Sự phát triển tiếp tục của triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau
tuỳ thuộc vào mức ñộ phản ứng của cây. Trên các giống lúa mẫn cảm các vết bệnh to,
Phần 1
BỆNH DO NẤM Trường ñại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Bệnh cây chuyên khoa------------------------------------------------     4
hình thoi, dày, màu nâu nhạt, có  khi có quầng màu vàng nhạt, phần giữa vết bệnh có màu
nâu xám. Trên các giống chống chịu, vết bệnh là các vết chấm rất nhỏ hình dạng không
ñặc trưng. Ở các giống có phản ứng trung gian, vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục nhỏ,
xung quanh vết bệnh có viền màu nâu.
c) Vết bệnh ở cổ bông, cổ gié và trên hạt lúa
Các vị trí khác nhau của bông lúa ñều có thể bị bệnh với triệu chứng các vết màu
nâu xám hơi teo thắt lại. Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bạc lạc;
nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt ñã vào chắc thì gây hiện tượng gẫy cổ bông.
Vết bệnh ở hạt không ñịnh hình, có màu  nâu xám hoặc nâu ñen. Nấm ký sinh ở vỏ
trấu và có thể ở bên trong hạt. Hạt giống bị bệnh là nguồn truyền bệnh từ vụ này qua vụ
khác.
1.2. Nguyên nhân gây bệnh
Nấm Pyricularia grisea (Cooke) Saccardo thuộc họ Moniliales, lớp Nấm Bất toàn.
Cành bào tử phân sinh hình trụ, ña bào không phân nhánh, ñầu cành thon và hơi gấp
khúc. Nấm thường sinh ra các cụm cành từ 3 - 5 chiếc. Bào tử phân sinh hình quả lê hoặc
hình nụ sen, thường có từ 2 - 3 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của
bào tử nấm 19 - 23 x 10 -12 µm. Nhìn chung kích thước của bào tử nấm biến ñộng tuỳ
thuộc vào các isolates, ñiều kiện ngoại cảnh khác nhau cũng như trên các giống lúa khác
nhau.
Nấm ñạo ôn sinh trưởng thích hợp ở nhiệt ñộ 25 - 28
0
C và ẩm ñộ không khí là 93%
trở lên (Abe, 1911; Konishi, 1933). Phạm vi nhiệt ñộ nấm sinh sản bào tử từ 10 - 30
0
C. Ở
28
0
C cường ñộ sinh bào tử nhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm dần sau 9 ngày, trong
khi ñó ở 16
0
C, 20
0
C và 24
0
C sự sinh sản bào tử tăng và kéo dài tới 15 ngày sau ñó mới
giảm xuống (Henry và Anderson, 1948). ðiều kiện ánh sáng âm u có tác ñộng thúc ñẩy
quá trình sinh sản bào tử của nấm.
Bào tử nảy mầmtốt nhất ở nhiệt ñộ 24 - 28
0
C và có giọt nước.
Quá trình xâm nhập của nấm vào cây phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt ñộ, ẩm ñộ không
khí và ánh sáng. Ở ñiều kiện bóng tối, nhiệt ñộ 24
0
C và ẩm ñộ bão hoà là thuận lợi nhất
cho nấm xâm nhập  vào cây.
Trong quá trình gây bệnh nấm tiết ra  một số ñộc tố như axit  α - pycolinic
(C6H5NO2) và pyricularin (C18H14N2O3) có tác dụng kìm hãm hô hấp và phân hủy các
enzyme chứa kim loại của cây, kìm hãm sự sinh trưởng của cây lúa. Nấm ñạo ôn có khả
năng biến dị cao, tạo ra nhiều chủng, nhóm nòi sinh học. Các vùng trồng lúa trên thế giới
ñã có tới 256 loài xuất hiện. Ở nước ta xác ñịnh trên bộ giống chỉ thị nòi quốc tế ñã thấy
sự xuất hiện của nhiều nhóm nòi ñạo ôn ký hiệu là IB, IC, ID, IE và IG phân bố từ Quảng
Nam - ðà Nẵng ñến các tỉnh ñồng bằng Bắc bộ. Các nhóm nòi có sức gây bệnh cao ở các
tỉnh miền Bắc là IB, IE, IG, IF, IC - 1, IA - 71 và IC - 23. Các nhóm IA, ID và IG có khả
năng gây bệnh cao ở các tỉnh ðồng bằng sông Cửu Long.
Nguồn bệnh của nấm ñạo ôn tồn tại ở dạng sợi nấm và bào tử trong rơm rạ và hạt bị
bệnh, ngoài ra nấm còn tồn tại trên một số cây cỏ dại khác. Ở ñiều kiện khô ráo trong Trường ñại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Bệnh cây chuyên khoa------------------------------------------------     5
phòng bào tử có thể sống ñược hơn một năm và sợi nấm sống ñược gần ba năm, nhưng  
trong ñiều kiện ẩm ướt chúng không sống sót ñược sang vụ sau (Kuribayashi, 1923). Tuy
nhiên, ở vùng nhiệt ñới, bào tử nấm có thể tồn tại quanh năm ñồng thời nấm chuyển ký
chủ từ cây lúa bị bệnh sang các cây ký chủ phụ sinh trưởng phát triển quanh năm.
1.3. Quy luật phát sinh phát triển của bệnh
Sự phát sinh phát triển của bệnh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố ngoại cảnh và
mức ñộ nhiễm bệnh của giống.
a) Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới bệnh
Nấm ñạo ôn ưa nhiệt ñộ tương ñối thấp, ñiều kiện nhiệt ñộ 20 - 28
0
C, ẩm ñộ không
khí bão hoà và thời tiết âm u trong vụ lúa ñông xuân là rất thích hợp cho bệnh phát sinh
gây hại nặng nhất. Ở miền Bắc, trà lúa mùa muộn trỗ - chín hoặc vụ chiêm xuân vào giai
ñoạn con gái - ñứng cái làm ñòng là những cao ñiểm của bệnh trong năm. Ở miền Trung
và miền Bắc bệnh thường gây hại nặng trong vụ ñông xuân khi cây  ở giai  ñoạn sinh
trưởng và trỗ chín.
ðộ ẩm không khí và ñộ ẩm ñất có tác dụng lớn tới tính mẫn cảm của cây ñối với sự
lây lan và phát triển của nấm bệnh. Trong ñiều kiện khô hạn, ẩm ñộ ñất thấp hoặc ở ñiều
kiện úng ngập kéo dài cây lúa dễ bị nhiễm bệnh, ẩm ñộ không khí cao lại thuận lợi cho vết
bệnh phát triển. Ở các vùng nhiệt ñới có mưa thường xuyên kéo dài tạo ñiều kiện thuận lợi
cho bệnh gây hại nghiêm trọng.
b) Ảnh hưởng của ñất ñai, phân bón ñến bệnh
Những chân ruộng nhiều mùn, trũng  ẩm, khó thoát nước; những vùng ñất mới vỡ
hoang, ñất nhẹ, giữ nước kém, khô hạn và những chân ruộng có lớp sét nông rất phù hợp
cho nấm bệnh ñạo ôn phát triển và gây hại.
Phân bón giữ vai trò ñặc biệt quan trọng ñối với sự phát sinh phát triển của bệnh ñạo
ôn ngay cả ở những năm tuy thời tiết không thuận lợi cho nấm phát triển nhưng do bón
phân không hợp lý tạo ñiều kiện thúc ñẩy bệnh phát sinh và gây hại mạnh.
Mức ñộ ảnh hưởng của phân ñạm tới bệnh biến ñộng tuỳ theo loại ñất, phương pháp
bón và diễn biến khí hậu khi bón phân cho cây. Khi sử dụng dạng ñạm tác dụng nhanh
như amonium sunfat quá nhiều, quá muộn hoặc bón vào lúc nhiệt ñộ không khí thấp và
cây còn non ñều làm tăng tỷ lệ bệnh và mức ñộ gây hại của bệnh.
Phân lân ảnh hưởng ít ñến mức ñộ nhiễm bệnh của cây. Bón phân ở liều lượng nào
ñó ñối với ñất thiếu lân có thể làm giảm tỷ lệ bệnh nhưng nếu sử dụng lân không hợp lý
thì bệnh vẫn có thể tăng.
Nếu bón kali trên nền ñạm cao sẽ làm bệnh tăng so với  trên nền ñạm thấp. Trong
ñất giàu kali nếu tăng mức ñộ bón kali trên nền ñạm cao cũng có thể làm tăng mức ñộ
bệnh của cây.
Phân silic có tác dụng làm giảm ñộ nhiễm bệnh của cây. Mức ñộ nhiễm bệnh của
cây tỷ lệ nghịch với hàm lượng silic trong cây, do ñó bón nhiều silic sẽ làm giảm mức ñộ
nhiễm bệnh của cây.Trường ñại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Bệnh cây chuyên khoa------------------------------------------------     6
c) Ảnh hưởng của giống lúa tới bệnh ñạo ôn
Ngoài các yếu tố khí hậu thời tiết, ñất ñai và phân bón, ñặc tính của giống có ảnh
hưởng rất lớn tới mức ñộ phát triển của bệnh trên ñồng ruộng. Những giống nhiễm bệnh
nặng (giống mẫn cảm) không những là ñiểm bệnh phát sinh ban ñầu là còn là  ñiều kiện
cho bệnh dễ dàng lây lan hàng loạt hình thành nên dịch bệnh trên ñồng ruộng.
ðặc tính chống bệnh của cây lúa tăng khi tỷ lệ SiO2
/N tăng (Sakomoto và Abe,
1933). Giống lúa chống bệnh chứa nhiều polyphenol hơn ở giống nhiễm bệnh (Wakimoto
và Yoshii, 1958). Trong giống lúa chống bệnh sẽ sản sinh ra hàm lượng lớn hợp chất
Phytoalexin có tác dụng ngăn cản sự phát triển của nấm trong cây. Tính chống bệnh của
cây lúa do 23 gen kháng ñạo ôn ñã ñược phát hiện và ñồng thời còn phụ thuộc vào ñặc
ñiểm cấu tạo của giống. Nhìn chung, các giống ñẻ nhánh tập trung, cứng cây, chịu phân,
tỷ số khối lượng thân trên khối lượng 20cm gốc nhỏ, ống rơm dày......là những giống thể
hiện khả năng chống chịu bệnh tốt.
Nhiều giống lúa ñã khảo nghiệm và ñánh giá là những giống có năng suất cao và
chống chịu bệnh ñạo ôn như IR1820, IR17494, C70, C71, RSB13, Xuân số 2, Xuân số 5,
X20, X21, V14, V15, v.v.... và ñã ñược gieo cấy rộng  rãi ở miền Trung và vùng ðồng
bằng sông Hồng.
Một số giống lúa nếp hoặc NN8, CR203 là giống mẫn cảm bệnh ñạo ôn.
1.4. Biện pháp phòng trừ
- Bệnh ñạo ôn là loại  bệnh gây hại nghiêm trọng, dễ phát triển nhanh trên diện rộng.
Vì vậy, muốn phòng trừ ñạt hiệu quả cao cần làm tốt công tác dự tính dự báo bệnh, ñiều
tra theo dõi và phân tích các ñiều kiện liên quan tới sự phát sinh của bệnh như: vị trí tồn
tại của nguồn bệnh, diễn biến yếu tố khí hậu thời tiết, tình hình sinh trưởng của cây và
ñiều kiện ñất ñai, phân bón, cơ cấu giống lúa.
- Dọn sạch tàn dư rơm rạ và cây cỏ dại mang bệnh ở trên ñồng ruộng.
- Bón phân N, P, K hợp lý, ñúng giai ñoạn, không bón ñạm tập trung vào thời kỳ lúa
dễ nhiễm bệnh. Khi có bệnh xuất hiện phải tạm ngừng bón thúc ñạm và tiến hành phun
thuốc phòng trừ.
- Tăng cường sử dụng giống lúa chống chịu bệnh có nhiều gen kháng trong cơ cấu
giống ở những vùng bệnh thường hay xảy ra và ở mức ñộ gây hại nặng.
- Cần kiểm tra lô hạt giống, nếu nhiễm bệnh  ở hạt cần xử lý hạt giống tiêu diệt
nguồn bệnh bằng nước nóng 54
0
C trong 10 phút hoặc xử lý bằng thuốc trừ ñạo ôn.
- Khi phát hiện ổ bệnh trên ñồng ruộng cần tiến hành phun thuốc sớm và trừ nhanh.
Một số thuốc hoá học sử dụng  ñể phòng trừ bệnh như Fuji - one 40EC (1 l/ha); New
Hinosan 30EC (1 l/ha); Kitazin EC (1 - 1,5 l/ha); Kasai 21,2WP ( 1 - 1,5 kg/ha); Benomyl
(Benlate) 50WP 1 kg/ha; Triozol  20WP (Beam 20WP) 1 kg/ha

Tổng số điểm của bài viết là: 0.0

Bài cũ hơn

 Thăm dò ý kiến

Nội dung trang web có giúp bạn ?
Tổng câu trả lời: 12738

  Đăng nhập

  Liên kết

  • Cây giống
  •  Thống kê


    Đang Online 1
    Khách 1
    Người sử dụng 0